HĐND tỉnh Hà Tĩnh ban hành Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND ngày 23/9/2026
Quy định mức hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2030. Trong đó, hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia dự án liên kết theo chuỗi giá trị được hỗ trợ tối đa 90% kinh phí, nhưng không quá 110 triệu đồng.
- Nghị quyết quy định mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho một dự án và định mức hỗ trợ đối với các đối tượng tham gia dự án phát triển sản xuất thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2026–2030.
Đối tượng áp dụng gồm các sở, ngành, cơ quan, đơn vị cấp tỉnh; UBND cấp xã; doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác; tổ, nhóm cộng đồng, người dân, hộ gia đình và các tổ chức, cá nhân khác tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc chương trình.
- Ba loại hình dự án với mức hỗ trợ cụ thể
Đối với dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 5 tỷ đồng cho một dự án. Hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia được hỗ trợ tối đa 90% kinh phí, nhưng không quá 110 triệu đồng.
Hộ mới thoát nghèo trong vòng 36 tháng kể từ thời điểm được cấp có thẩm quyền công nhận thoát nghèo, hộ dân tộc thiểu số và người có công với cách mạng được hỗ trợ tối đa 70% kinh phí, nhưng không quá 90 triệu đồng. Đối với hộ khác tham gia dự án, mức hỗ trợ tối đa là 60% kinh phí, nhưng không quá 70 triệu đồng.
Đối với dự án phát triển sản xuất của cộng đồng, mức hỗ trợ tối đa cho một dự án là 1 tỷ đồng. Hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ tối đa 90% kinh phí, nhưng không quá 40 triệu đồng.
Hộ mới thoát nghèo trong vòng 36 tháng, hộ dân tộc thiểu số và người có công với cách mạng được hỗ trợ tối đa 70% kinh phí, nhưng không quá 30 triệu đồng. Hộ khác tham gia dự án được hỗ trợ tối đa 50% kinh phí, nhưng không quá 20 triệu đồng.
Đối với dự án phát triển sản xuất theo nhiệm vụ, mức hỗ trợ tối đa cho một dự án là 3 tỷ đồng, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 Nghị định số 358/2025/NĐ-CP. Hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ tối đa 90% kinh phí, nhưng không quá 50 triệu đồng.
Hộ mới thoát nghèo trong vòng 36 tháng, hộ dân tộc thiểu số và người có công với cách mạng được hỗ trợ tối đa 85% kinh phí, nhưng không quá 45 triệu đồng. Hộ khác tham gia dự án được hỗ trợ tối đa 80% kinh phí, nhưng không quá 40 triệu đồng.
- Mức hỗ trợ thực tế căn cứ nguồn vốn và từng dự án
Một nội dung người dân cần lưu ý là các mức nêu trên đều là mức hỗ trợ tối đa. Việc hỗ trợ cụ thể phải căn cứ khả năng cân đối ngân sách, nguồn vốn được giao hằng năm, quy mô, tính chất và hiệu quả của từng dự án. Phần kinh phí còn lại do các đối tượng tham gia dự án đối ứng và huy động từ các nguồn hợp pháp khác.
Trường hợp một đối tượng đồng thời thuộc từ hai nhóm đối tượng trở lên thì được áp dụng định mức của nhóm có mức hỗ trợ cao nhất; không cộng dồn mức hỗ trợ của các nhóm. Đồng thời, một đối tượng, một nội dung hỗ trợ không được hưởng cùng lúc từ các chương trình, dự án hoặc nguồn hỗ trợ khác nhau.
Các quy định này là cơ sở để tổ chức thực hiện chính sách phù hợp với nguồn lực, bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng và tránh trùng lặp trong sử dụng ngân sách nhà nước.
Đối với các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021–2025, sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước được phép kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân đến hết ngày 31/12/2026 theo Nghị quyết số 265/2025/QH15 của Quốc hội, việc thực hiện tiếp tục áp dụng Nghị quyết số 122/2023/NQ-HĐND của HĐND tỉnh, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 166/2025/NQ-HĐND.
Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND có hiệu lực từ ngày 23/9/2026.
Thông tin chỉ đạo, điều hành